LỜI CHÚA DÙNG CHO GIỜ KINH
CỦA PHÒNG TNTTBS
Thiếu Nhi Thánh Thể Bidong Sungei

 

*    [ Câu Lời Chúa tuần 23-3-2020 ] [ Bài đọc Chúa nhật 29-3-2020 ] [ Bài đọc 1 Chúa nhật 29-3-2020 ] [ Đáp ca Chúa nhật 29-3-2020 ] [ Bài đọc 2 Chúa nhật 29-3-2020 ] [ Phúc âm Chúa nhật 29-3-2020 ]    *

 

Câu Lời Chúa tuần 23-3-2020: Từ thứ hai 23-3-2020 đến Chúa nhật 29-3-2020:
Câu Lời Chúa cho tuần này:
Khi ấy,/ Đức Giê-su phán rằng:/ ""Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống./ Ai tin vào Thầy,/ thì dù đã chết,/ cũng sẽ được sống."/ (Gio-an 11,25)

 

Chúa nhật ngày 29-3-2020
Chúa nhật 5 mùa Chay, a
Chủ đề: Thầy là sự sống lại

Bài đọc 1
Lời Chúa trong sách ngôn sứ Ê-dê-ki-en (Ed 37,12-14)./
Đức Chúa là Chúa Thượng phán như sau:/ "Hỡi dân Ta,/ này chính Ta mở huyệt cho các ngươi,/ Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt / và đem các ngươi về đất Ít-ra-en./ Các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa,/ khi Ta mở huyệt cho các ngươi / và đưa các ngươi lên khỏi huyệt,/ hỡi dân Ta./ Ta sẽ đặt thần khí của Ta vào trong các ngươi / và các ngươi sẽ được hồi sinh./ Ta sẽ cho các ngươi định cư trên đất của các ngươi./ Bấy giờ,/ các ngươi sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa,/ Ta đã phán là Ta làm."/ Đó là sấm ngôn của Đức Chúa./
Đó là lời Chúa./ - Tạ ơn Chúa./

Đáp ca (Tv 129,1-2.3-4.5-6a.6b-8 - Đ: c. 7bc)
Đáp: Chúa luôn từ ái một niềm,/ ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa./
   1- Từ vực thẳm,/ con kêu lên Ngài,/ lạy Chúa,/ muôn lạy Chúa,/ xin Ngài nghe tiếng con./ Dám xin Ngài lắng tai để ý / nghe lời con tha thiết nguyện cầu./
Đáp: Chúa luôn từ ái một niềm,/ ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa./
   2- Ôi lạy Chúa,/ nếu như Ngài chấp tội,/ nào có ai đứng vững được chăng?/ Nhưng Chúa vẫn rộng lòng tha thứ / để chúng con biết kính sợ Ngài./
Đáp: Chúa luôn từ ái một niềm,/ ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa./
   3- Mong đợi Chúa,/ tôi hết lòng mong đợi,/ cậy trông ở lời Người./ Hồn tôi trông chờ Chúa,/ hơn lính canh mong đợi hừng đông./
Đáp: Chúa luôn từ ái một niềm,/ ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa./
   4- Hơn lính canh mong đợi hừng đông,/ trông cậy Chúa đi,/ Ít-ra-en hỡi,/ bởi Chúa luôn từ ái một niềm,/ ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa./ Chính Người sẽ cứu chuộc Ít-ra-en / cho thoát khỏi tội khiên muôn vàn./
Đáp: Chúa luôn từ ái một niềm,/ ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa./

Bài đọc 2
Lời Chúa trong thư thứ hai của Thánh Phao-lô tông đồ / gửi tín hữu Rô-ma (Rm 8,8-11)./
Thưa anh em,/ những ai bị tính xác thịt chi phối / thì không thể vừa lòng Thiên Chúa./ Nhưng anh em không bị tính xác thịt chi phối,/ mà được Thần Khí chi phối,/ bởi vì Thần Khí của Thiên Chúa ngự trong anh em./ Ai không có Thần Khí của Đức Ki-tô,/ thì không thuộc về Đức Ki-tô./ Nhưng nếu Đức Ki-tô ở trong anh em,/ thì dầu thân xác anh em có phải chết vì tội đã phạm,/ Thần Khí cũng ban cho anh em được sống,/ vì anh em đã được trở nên công chính./ Lại nữa,/ nếu Thần Khí ngự trong anh em,/ Thần Khí của Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết,/ thì Đấng đã làm cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết,/ cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em,/ mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới./
Đó là lời Chúa./ - Tạ ơn Chúa./

Tung hô Tin Mừng (Ga 11,25a.26)
Chúa nói:/ Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống;/ ai tin vào Thầy,/ sẽ không phải chết bao giờ./

Phúc âm
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô / theo thánh Gio-an (Ga 11,1-45)./
Hồi đó,/ có một người bị đau nặng,/ tên là La-da-rô,/ quê ở Bê-ta-ni-a,/ làng của hai chị em cô Mác-ta và Ma-ri-a./ Cô Ma-ri-a là người sau này sẽ xức dầu thơm cho Chúa,/ và lấy tóc lau chân Người./ Anh La-da-rô,/ người bị đau nặng,/ là em của cô./ Hai cô cho người đến nói với Đức Giê-su:/ "Thưa Thầy,/ người Thầy thương mến đang bị đau nặng."/ Nghe vậy,/ Đức Giê-su bảo:/ "Bệnh này không đến nỗi chết đâu,/ nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa:/ qua cơn bệnh này,/ Con Thiên Chúa được tôn vinh."/ Đức Giê-su quý mến cô Mác-ta,/ cùng hai người em / là cô Ma-ri-a và anh La-da-rô./ Tuy nhiên,/ sau khi được tin anh La-da-rô lâm bệnh,/ Người còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở./ Rồi sau đó,/ Người nói với các môn đệ:/ "Nào chúng ta cùng trở lại miền Giu-đê!"/
Các môn đệ nói:/ "Thưa Thầy,/ mới đây người Do-thái tìm cách ném đá Thầy,/ mà Thầy lại còn đến đó sao?"/ Đức Giê-su trả lời:/ "Ban ngày chẳng có mười hai giờ đó sao?/ Ai đi ban ngày thì không vấp ngã,/ vì thấy ánh sáng mặt trời./ Còn ai đi ban đêm,/ thì vấp ngã vì không có ánh sáng nơi mình!"/
Nói những lời này xong,/ Người bảo họ:/ "La-da-rô,/ bạn của chúng ta,/ đang yên giấc;/ tuy vậy,/ Thầy đi đánh thức anh ấy đây."/ Các môn đệ nói với Người:/ "Thưa Thầy,/ nếu anh ấy yên giấc được,/ anh ấy sẽ khỏe lại."/ Đức Giê-su nói về cái chết của anh La-da-rô,/ còn họ tưởng Người nói về giấc ngủ thường./ Bấy giờ Người mới nói rõ:/ "La-da-rô đã chết./ Thầy mừng cho anh em,/ vì Thầy đã không có mặt ở đó,/ để anh em tin./ Thôi,/ nào chúng ta đến với anh ấy."/ Ông Tô-ma,/ gọi là Đi-đy-mô,/ nói với các bạn đồng môn:/ "Cả chúng ta nữa,/ chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy!"/
Khi đến nơi,/ Đức Giê-su thấy anh La-da-rô đã chôn trong mồ được bốn ngày rồi./ Bê-ta-ni-a cách Giê-ru-sa-lem không đầy ba cây số./ Nhiều người Do-thái đến chia buồn với hai cô Mác-ta và Ma-ri-a,/ vì em các cô mới qua đời./ Vừa được tin Đức Giê-su đến,/ cô Mác-ta liền ra đón Người./ Còn cô Ma-ri-a thì ngồi ở nhà./ Cô Mác-ta nói với Đức Giê-su:/ "Thưa Thầy,/ nếu có Thầy ở đây,/ em con đã không chết./ Nhưng bây giờ con biết:/ Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa,/ Người cũng sẽ ban cho Thầy."/ Đức Giê-su nói:/ "Em chị sẽ sống lại!"/ Cô Mác-ta thưa:/ "Con biết em con sẽ sống lại,/ khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết."/ Đức Giê-su liền phán:/ "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống./ Ai tin vào Thầy,/ thì dù đã chết,/ cũng sẽ được sống./ Ai sống và tin vào Thầy,/ sẽ không bao giờ phải chết./ Chị có tin thế không?"/ Cô Mác-ta đáp:/ "Thưa Thầy,/ có./ Con vẫn tin Thầy là Đức Ki-tô,/ Con Thiên Chúa,/ Đấng phải đến thế gian."/
Nói xong,/ cô đi gọi em là Ma-ri-a/ và nói nhỏ:/ "Thầy đến rồi,/ Thầy gọi em đấy!"/ Nghe vậy,/ cô Ma-ri-a vội đứng lên và đến với Đức Giê-su./ Lúc đó,/ Người chưa vào làng,/ nhưng vẫn còn ở chỗ cô Mác-ta đã ra đón Người./ Những người Do-thái đang ở trong nhà với cô Ma-ri-a để chia buồn,/ thấy cô vội vã đứng dậy đi ra,/ liền đi theo,/ tưởng rằng cô ra mộ khóc em./
Khi đến gần Đức Giê-su,/ cô Ma-ri-a vừa thấy Người,/ liền phủ phục dưới chân và nói:/ "Thưa Thầy,/ nếu có Thầy ở đây,/ em con đã không chết."/ Thấy cô khóc,/ và những người Do-thái đi với cô cũng khóc,/ Đức Giê-su thổn thức trong lòng và xao xuyến./ Người hỏi:/ "Các người để xác anh ấy ở đâu?"/ Họ trả lời:/ "Thưa Thầy,/ mời Thầy đến mà xem."/ Đức Giê-su liền khóc./ Người Do-thái mới nói:/ "Kìa xem!/ Ông ta thương anh La-da-rô biết mấy!"/ Có vài người trong nhóm họ nói:/ "Ông ta đã mở mắt cho người mù,/ lại không thể làm cho anh ấy khỏi chết ư?"/ Đức Giê-su lại thổn thức trong lòng./ Người đi tới mộ./ Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến đá đậy lại./ Đức Giê-su nói:/ "Đem phiến đá này đi."/ Cô Mác-ta là chị người chết liền nói:/ "Thưa Thầy,/ nặng mùi rồi,/ vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày."/ Đức Giê-su bảo:/ "Nào Thầy đã chẳng nói với chị rằng nếu chị tin,/ chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?"/ Rồi người ta đem phiến đá đi./ Đức Giê-su ngước mắt lên và nói:/ "Lạy Cha,/ con cảm tạ Cha,/ vì Cha đã nhậm lời con./ Phần con,/ con biết Cha hằng nhậm lời con,/ nhưng vì dân chúng đứng quanh đây,/ nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con."/ Nói xong,/ Người kêu lớn tiếng:/ "Anh La-da-rô,/ hãy ra khỏi mồ!"/ Người chết liền ra,/ chân tay còn quấn vải,/ và mặt còn phủ khăn./ Đức Giê-su bảo:/ "Cởi khăn và vải cho anh ấy,/ rồi để anh ấy đi."/
Trong số những người Do-thái đến thăm cô Ma-ri-a / và được chứng kiến việc Đức Giê-su làm,/ có nhiều kẻ đã tin vào Người./
Đó là lời Chúa./ - Lạy Chúa Kitô,/ ngợi khen Chúa./

 

Tuần cũ: Chúa nhật 4 mùa Chay, a

Phúc âm tuần cũ: Chúa nhật ngày 22-3-2020
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô / theo thánh Gio-an (Ga 9,1-41)././
Khi ra khỏi Đền Thờ,/ Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh./ Các môn đệ hỏi Người:/ "Thưa Thầy,/ ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù,/ anh ta hay cha mẹ anh ta?"/ Đức Giê-su trả lời:/ "Không phải anh ta,/ cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội./ Nhưng sở dĩ như thế / là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa / được tỏ hiện nơi anh./ Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy,/ khi trời còn sáng;/ đêm đến,/ không ai có thể làm việc được./ Bao lâu Thầy còn ở thế gian,/ Thầy là ánh sáng thế gian."/ Nói xong,/ Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất,/ trộn thành bùn và xức vào mắt người mù,/ rồi bảo anh ta:/ "Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa"/ (Si-lô-ác có nghĩa là:/ người được sai phái)./ Vậy anh ta đến rửa ở hồ,/ và khi về thì nhìn thấy được./
Các người láng giềng / và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói:/ "Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?"/ Có người nói:/ "Chính hắn đó!"/ Kẻ khác lại rằng:/ "Không phải đâu!/ Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi!"/ Còn anh ta thì quả quyết:/ "Chính tôi đây!"/ Người ta liền hỏi anh:/ "Vậy,/ làm sao mắt anh lại mở ra được như thế?"/ Anh ta trả lời:/ "Người tên là Giê-su đã trộn một chút bùn,/ xức vào mắt tôi,/ rồi bảo:/ "Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa."/ Tôi đã đi,/ đã rửa và tôi nhìn thấy."/ Họ lại hỏi anh:/ "Ông ấy ở đâu?"/ Anh ta đáp:/ "Tôi không biết."/
Họ dẫn kẻ trước đây bị mù / đến với những người Pha-ri-sêu./ Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn / và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát./ Vậy,/ các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa / làm sao anh nhìn thấy được./ Anh trả lời:/ "Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi,/ tôi rửa và tôi nhìn thấy."/ Trong nhóm Pha-ri-sêu,/ người thì nói:/ "Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được,/ vì không giữ ngày sa-bát";/ kẻ thì bảo:/ "Một người tội lỗi / sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?"/ Thế là họ đâm ra chia rẽ./ Họ lại hỏi người mù:/ "Còn anh,/ anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh?"/ Anh đáp:/ "Người là một vị ngôn sứ!"/
Người Do-thái không tin là trước đây anh bị mù / mà nay nhìn thấy được,/ nên đã gọi cha mẹ anh ta đến./ Họ hỏi:/ "Anh này có phải là con ông bà không?/ Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh,/ vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được?"/ Cha mẹ anh đáp:/ "Chúng tôi biết nó là con chúng tôi,/ nó bị mù từ khi mới sinh./ Còn bây giờ làm sao nó thấy được,/ chúng tôi không biết,/ hoặc có ai đã mở mắt cho nó,/ chúng tôi cũng chẳng hay./ Xin các ông cứ hỏi nó;/ nó đã khôn lớn rồi,/ nó có thể tự khai được."/ Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái./ Thật vậy,/ người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường / kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô./ Vì thế,/ cha mẹ anh mới nói:/ "Nó đã khôn lớn rồi,/ xin các ông cứ hỏi nó."/
Một lần nữa,/ họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo:/ "Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa./ Chúng ta đây,/ chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi."/ Anh ta đáp:/ "Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không,/ tôi không biết./ Tôi chỉ biết một điều:/ trước đây tôi bị mù / mà nay tôi nhìn thấy được!"/ Họ mới nói với anh:/ "Ông ấy đã làm gì cho anh?/ Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào?"/ Anh trả lời:/ "Tôi đã nói với các ông rồi / mà các ông vẫn không chịu nghe./ Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa?/ Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng?"/
Họ liền mắng nhiếc anh:/ "Có mày mới là môn đệ của ông ấy;/ còn chúng ta,/ chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê./ Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê;/ nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến."/ Anh đáp:/ "Kể cũng lạ thật!/ Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến,/ thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi!/ Chúng ta biết:/ Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi;/ còn ai kính sợ Thiên Chúa / và làm theo ý của Người,/ thì Người nhậm lời kẻ ấy./ Xưa nay chưa hề nghe nói / có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh./ Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến,/ thì ông ta đã chẳng làm được gì."/
Họ đối lại:/ "Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu,/ thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?"/ Rồi họ trục xuất anh./ Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh./ Khi gặp lại anh,/ Người hỏi:/ "Anh có tin vào Con Người không?"/ Anh đáp:/ "Thưa Ngài,/ Đấng ấy là ai để tôi tin?"/ Đức Giê-su trả lời:/ "Anh đã thấy Người./ Chính Người đang nói với anh đây."/ Anh nói:/ "Thưa Ngài,/ tôi tin."/ Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người./
Đức Giê-su nói:/ "Tôi đến thế gian này chính là để xét xử:/ cho người không xem thấy được thấy,/ và kẻ xem thấy lại nên đui mù!"/ Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giê-su nghe vậy,/ liền lên tiếng:/ "Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?"/ Đức Giê-su bảo họ:/ "Nếu các ông đui mù,/ thì các ông đã chẳng có tội./ Nhưng giờ đây các ông nói rằng:/ "Chúng tôi thấy",/ nên tội các ông vẫn còn!"/
Đó là lời Chúa./ - Lạy Chúa Kitô,/ ngợi khen Chúa./

tnttbs tre ngang
Thân ái trong Chúa Giêsu Thánh Thể,
Ðại gia đình TNTTBS (Bidong Sungei) cũ.

(điều chỉnh lại: Virginia, ngày 23-3-2020)

 

Trở về [ trang mục lục ], hay [ liên lạc ].

chim bay tnttbs chim bay tnttbs
Nhạc: TNTT Tân hành ca.
(Dùng dạng đơn giản: Virginia, ngày 19-4-2017).