LỜI CHÚA CHO GIỜ KINH PHÒNG TNTTBS
Thiếu Nhi Thánh Thể Bidong Sungei
*    [ Câu Lời Chúa tuần 9-3-2026 ] [ Bài đọc Chúa nhật 15-3-2026 ] [ Bài đọc 1 Chúa nhật 15-3-2026 ] [ Đáp ca Chúa nhật 15-3-2026 ] [ Bài đọc 2 Chúa nhật 15-3-2026 ] [ Phúc âm Chúa nhật 15-3-2026 ]    *

 

Câu Lời Chúa tuần 9-3-2026: Từ thứ hai 9-3-2026 đến Chúa nhật 15-3-2026:

Câu Lời Chúa cho tuần này:
Khi ấy,/ Đức Giêsu bảo người mù từ thuở mới sinh:/ "Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa"/ (Si-lô-ác có nghĩa là:/ người được sai phái)./ Vậy anh ta đến rửa ở hồ,/ và khi về thì nhìn thấy được./ (Gio-an 9,7)

 

Chúa nhật ngày 15-3-2026
Chúa nhật 4 mùa Chay, năm a
Chủ đề: Nhìn thấy được

Bài đọc 1
Lời Chúa trong sách Sa-mu-en quyển thứ nhất (1 Sm 16,1b.6-7.10-13a)./
Thời đó,/ Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en:/ "Ngươi hãy lấy dầu đổ đầy sừng và lên đường./ Ta sai ngươi đến gặp Gie-sê người Bê-lem,/ vì Ta đã thấy trong các con trai nó / một người Ta muốn đặt làm vua."/
Khi họ đến,/ ông thấy Ê-li-áp,/ ông nghĩ:/ "Đúng rồi!/ Người Đức Chúa xức dầu tấn phong đang ở trước mặt Đức Chúa đây!"/ Nhưng Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en:/ "Đừng xét theo hình dáng / và vóc người cao lớn của nó,/ vì ta đã gạt bỏ nó./ Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm:/ người phàm chỉ thấy điều mắt thấy,/ còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng."/
Ông Gie-sê cho bảy người con trai / đi qua trước mặt ông Sa-mu-en,/ nhưng ông Sa-mu-en nói với ông Gie-sê:/ "Đức Chúa không chọn những người này."/ Rồi ông lại hỏi ông Gie-sê:/ "Các con ông có mặt đầy đủ chưa?"/ Ông Gie-sê trả lời:/ "Còn cháu út nữa,/ nó đang chăn chiên."/ Ông Sa-mu-en liền nói với ông Gie-sê:/ "Xin ông cho người đi tìm nó về,/ chúng ta sẽ không nhập tiệc trước khi nó tới đây."/ Ông Gie-sê cho người đi đón cậu về./ Cậu có mái tóc hung,/ đôi mắt đẹp và khuôn mặt xinh xắn./ Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en:/ "Đứng dậy,/ xức dầu tấn phong nó đi!/ Chính nó đó!"/ Ông Sa-mu-en cầm lấy sừng dầu và xức cho cậu,/ ở giữa các anh của cậu./ Thần khí Đức Chúa nhập vào Đa-vít từ ngày đó trở đi./
Đó là lời Chúa./ - Tạ ơn Chúa./

Đáp ca (Tv 22,1-3a.3b-4.5.6 - Đáp: c.1)
Đáp: Chúa là mục tử chăn dắt tôi,/ tôi chẳng thiếu thốn gì./
   1- Chúa là mục tử chăn dắt tôi,/ tôi chẳng thiếu thốn gì./ Trong đồng cỏ xanh tươi,/ Người cho tôi nằm nghỉ./ Người đưa tôi tới dòng nước trong lành / và bổ sức cho tôi./
Đáp: Chúa là mục tử chăn dắt tôi,/ tôi chẳng thiếu thốn gì./
   2- Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính / vì danh dự của Người./ Lạy Chúa,/ dầu qua lũng âm u / con sợ gì nguy khốn,/ vì có Chúa ở cùng./ Côn trượng Ngài bảo vệ,/ con vững dạ an tâm./
Đáp: Chúa là mục tử chăn dắt tôi,/ tôi chẳng thiếu thốn gì./
   3- Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù./ Đầu con,/ Chúa xức đượm dầu thơm,/ ly rượu con đầy tràn chan chứa./
Đáp: Chúa là mục tử chăn dắt tôi,/ tôi chẳng thiếu thốn gì./
   4- Lòng nhân hậu và tình thương Chúa / ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,/ và tôi được ở đền Người / những ngày tháng,/ những năm dài triền miên./
Đáp: Chúa là mục tử chăn dắt tôi,/ tôi chẳng thiếu thốn gì./

Bài đọc 2
Lời Chúa trong thư của Thánh Phao-lô tông đồ / gửi tín hữu Ê-phê-xô (Ep 5,8-14)./
Thưa anh em,/ xưa anh em đã từng là bóng tối,/ nhưng bây giờ,/ trong Chúa,/ anh em lại là ánh sáng./ Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng;/ mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện,/ công chính và chân thật./ Anh em hãy xem điều gì đẹp lòng Chúa./ Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối,/ phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng./ Vì những việc chúng làm lén lút,/ thì nói đến đã là nhục rồi./ Nhưng tất cả những gì bị vạch trần,/ đều do ánh sáng làm lộ ra;/ mà bất cứ điều gì lộ ra,/ thì trở nên ánh sáng./ Bởi vậy,/ có lời chép rằng:/ Tỉnh giấc đi,/ hỡi người còn đang ngủ!/ Từ chốn tử vong,/ trỗi dậy đi nào!/ Đức Ki-tô sẽ chiếu sáng ngươi!/
Đó là lời Chúa./ - Tạ ơn Chúa./

Tung hô Tin Mừng (Ga 8,12)
Chúa nói:/ Tôi là ánh sáng thế gian./ Ai theo tôi,/ sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống./

Phúc âm
**Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an (Ga 9,1-41)././
Khi ra khỏi Đền Thờ,/ Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh./* Các môn đệ hỏi Người:/ "Thưa Thầy,/ ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù,/ anh ta hay cha mẹ anh ta?"/ Đức Giê-su trả lời:/ "Không phải anh ta,/ cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội./ Nhưng sở dĩ như thế / là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa / được tỏ hiện nơi anh./ Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy,/ khi trời còn sáng;/ đêm đến,/ không ai có thể làm việc được./ Bao lâu Thầy còn ở thế gian,/ Thầy là ánh sáng thế gian."/ Nói xong,/ **Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất,/ trộn thành bùn và xức vào mắt người mù,/ rồi bảo anh ta:/ "Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa"/ (Si-lô-ác có nghĩa là:/ người được sai phái)./ Vậy anh ta đến rửa ở hồ,/ và khi về thì nhìn thấy được./
Các người láng giềng / và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin / mới nói:/ "Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?"/ Có người nói:/ "Chính hắn đó!"/ Kẻ khác lại rằng:/ "Không phải đâu!/ Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi!"/ Còn anh ta thì quả quyết:/ "Chính tôi đây!"/* Người ta liền hỏi anh:/ "Vậy,/ làm sao mắt anh lại mở ra được như thế?"/ Anh ta trả lời:/ "Người tên là Giê-su đã trộn một chút bùn,/ xức vào mắt tôi,/ rồi bảo:/ "Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa."/ Tôi đã đi,/ đã rửa và tôi nhìn thấy."/ Họ lại hỏi anh:/ "Ông ấy ở đâu?"/ Anh ta đáp:/ "Tôi không biết."/
**Họ dẫn kẻ trước đây bị mù / đến với những người Pha-ri-sêu./ Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn / và làm cho mắt anh ta mở ra / lại là ngày sa-bát./ Vậy,/ các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa / làm sao anh nhìn thấy được./ Anh trả lời:/ "Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi,/ tôi rửa và tôi nhìn thấy."/ Trong nhóm Pha-ri-sêu,/ người thì nói:/ "Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được,/ vì không giữ ngày sa-bát";/ kẻ thì bảo:/ "Một người tội lỗi / sao có thể làm được những dấu lạ như vậy?"/ Thế là họ đâm ra chia rẽ./ Họ lại hỏi người mù:/ "Còn anh,/ anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh?"/ Anh đáp:/ "Người là một vị ngôn sứ!"/*
Người Do-thái không tin là trước đây anh bị mù / mà nay nhìn thấy được,/ nên đã gọi cha mẹ anh ta đến./ Họ hỏi:/ "Anh này có phải là con ông bà không?/ Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh,/ vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được?"/ Cha mẹ anh đáp:/ "Chúng tôi biết nó là con chúng tôi,/ nó bị mù từ khi mới sinh./ Còn bây giờ làm sao nó thấy được,/ chúng tôi không biết,/ hoặc có ai đã mở mắt cho nó,/ chúng tôi cũng chẳng hay./ Xin các ông cứ hỏi nó;/ nó đã khôn lớn rồi,/ nó có thể tự khai được."/ Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái./ Thật vậy,/ người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường / kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô./ Vì thế,/ cha mẹ anh mới nói:/ "Nó đã khôn lớn rồi,/ xin các ông cứ hỏi nó."/
Một lần nữa,/ họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo:/ "Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa./ Chúng ta đây,/ chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi."/ Anh ta đáp:/ "Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không,/ tôi không biết./ Tôi chỉ biết một điều:/ trước đây tôi bị mù / mà nay tôi nhìn thấy được!"/ Họ mới nói với anh:/ "Ông ấy đã làm gì cho anh?/ Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào?"/ Anh trả lời:/ "Tôi đã nói với các ông rồi / mà các ông vẫn không chịu nghe./ Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa?/ Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng?"/
Họ liền mắng nhiếc anh:/ "Có mày mới là môn đệ của ông ấy;/ còn chúng ta,/ chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê./ Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê;/ nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến."/ Anh đáp:/ "Kể cũng lạ thật!/ Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến,/ thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi!/ Chúng ta biết:/ Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi;/ còn ai kính sợ Thiên Chúa / và làm theo ý của Người,/ thì Người nhậm lời kẻ ấy./ Xưa nay chưa hề nghe nói / có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh./ Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến,/ thì ông ta đã chẳng làm được gì."/
**Họ đối lại:/ "Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu,/ thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?"/ Rồi họ trục xuất anh./ Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh./ Khi gặp lại anh,/ Người hỏi:/ "Anh có tin vào Con Người không?"/ Anh đáp:/ "Thưa Ngài,/ Đấng ấy là ai để tôi tin?"/ Đức Giê-su trả lời:/ "Anh đã thấy Người./ Chính Người đang nói với anh đây."/ Anh nói:/ "Thưa Ngài,/ tôi tin."/ Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người./* Đức Giê-su nói:/ "Tôi đến thế gian này chính là để xét xử:/ cho người không xem thấy được thấy,/ và kẻ xem thấy lại nên đui mù!"/ Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giê-su nghe vậy,/ liền lên tiếng:/ "Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?"/ Đức Giê-su bảo họ:/ "Nếu các ông đui mù,/ thì các ông đã chẳng có tội./ Nhưng giờ đây các ông nói rằng:/ "Chúng tôi thấy",/ nên tội các ông vẫn còn!"/
**Đó là lời Chúa./ - Lạy Chúa Kitô,/ ngợi khen Chúa./*

 

Tuần cũ: Chúa nhật 3 mùa Chay, năm a

Phúc âm Chúa nhật ngày 8-3-2026
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an (Ga 4,5-42)././
Khi ấy,/ Đức Giê-su đến một thành xứ Sa-ma-ri,/ tên là Xy-kha,/ gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se./ Ở đấy,/ có giếng của ông Gia-cóp./ Người đi đường mỏi mệt,/ nên ngồi ngay xuống bờ giếng./ Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa./
Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước./ Đức Giê-su nói với người ấy:/ "Chị cho tôi xin chút nước uống!"/ Lúc đó,/ các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn./ Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói:/ "Ông là người Do-thái,/ mà lại xin tôi,/ một phụ nữ Sa-ma-ri,/ cho ông nước uống sao?"/ Quả thế,/ người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri./ Đức Giê-su trả lời:/ "Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban,/ và ai là người nói với chị:/ "Cho tôi chút nước uống",/ thì hẳn chị đã xin,/ và người ấy ban cho chị nước hằng sống."/ Chị ấy nói:/ "Thưa ông,/ ông không có gầu,/ mà giếng lại sâu./ Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống?/ Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ Gia-cóp chúng tôi,/ là người đã cho chúng tôi giếng này?/ Chính Người đã uống nước giếng này,/ cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy."/ Đức Giê-su trả lời:/ "Ai uống nước này,/ sẽ lại khát./ Còn ai uống nước tôi cho,/ sẽ không bao giờ khát nữa./ Và nước tôi cho / sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên,/ đem lại sự sống đời đời."/ Người phụ nữ nói với Đức Giê-su:/ "Thưa ông,/ xin ông cho tôi thứ nước ấy,/ để tôi hết khát / và khỏi phải đến đây lấy nước."/*
Người bảo chị ấy:/ "Chị hãy gọi chồng chị,/ rồi trở lại đây."/ Người phụ nữ đáp:/ "Tôi không có chồng."/ Đức Giê-su bảo:/ "Chị nói:/ "Tôi không có chồng" là phải,/ vì chị đã năm đời chồng rồi,/ và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị./ Chị đã nói đúng."/
Người phụ nữ nói với Người:/ **"Thưa ông,/ tôi thấy ông thật là một ngôn sứ.../ Cha ông chúng tôi đã thờ phượng Thiên Chúa trên núi này;/ còn các ông lại bảo:/ Giê-ru-sa-lem mới chính là nơi phải thờ phượng Thiên Chúa."/ Đức Giê-su phán:/ "Này chị,/ hãy tin tôi:/ đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha,/ không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem./ Các người thờ Đấng các người không biết;/ còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết,/ vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do-thái./ Nhưng giờ đã đến -/ và chính là lúc này đây -/ giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha / trong thần khí và sự thật,/ vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế./ Thiên Chúa là thần khí,/ và những kẻ thờ phượng Người / phải thờ phượng trong thần khí và sự thật."/ Người phụ nữ thưa:/ "Tôi biết Đấng Mê-si-a,/ gọi là Đức Ki-tô,/ sẽ đến./ Khi Người đến,/ Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự."/ Đức Giê-su nói:/ "Đấng ấy chính là tôi,/ người đang nói với chị đây."/*
Vừa lúc đó,/ các môn đệ trở về./ Các ông ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ./ Tuy thế,/ không ai dám hỏi:/ "Thầy cần gì vậy?" Hoặc "Thầy nói gì với chị ấy?"/ Người phụ nữ để vò nước lại,/ vào thành và nói với người ta:/ "Đến mà xem:/ có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm./ Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao?"/ Họ ra khỏi thành và đến gặp Người./
Trong khi đó,/ các môn đệ thưa với Người rằng:/ "Ráp-bi,/ xin mời Thầy dùng bữa."/ Người nói với các ông:/ "Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết."/ Các môn đệ mới hỏi nhau:/ "Đã có ai mang thức ăn đến cho Thầy rồi chăng?"/ Đức Giê-su nói với các ông:/ "Lương thực của Thầy / là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy,/ và hoàn tất công trình của Người./ Nào anh em chẳng nói:/ Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt?/ Nhưng này,/ Thầy bảo anh em:/ Ngước mắt lên mà xem,/ đồng lúa đã chín vàng đang chờ ngày gặt hái!/ Ai gặt thì lãnh tiền công / và thu hoa lợi để được sống muôn đời,/ và như thế,/ cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở vui mừng./ Thật vậy,/ câu tục ngữ "kẻ này gieo,/ người kia gặt" quả là đúng!/ Thầy sai anh em đi / gặt những gì chính anh em đã không phải vất vả làm ra./ Người khác đã làm lụng vất vả;/ còn anh em,/ anh em được vào hưởng kết quả công lao của họ."/
**Có nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó / đã tin vào Đức Giê-su,/ vì lời người phụ nữ làm chứng:/ ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm./ Vậy,/ khi đến gặp Người,/ dân Sa-ma-ri xin Người ở lại với họ,/ và Người đã ở lại đó hai ngày./ Số người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa./ Họ bảo người phụ nữ:/ "Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin./ Quả thật,/ chính chúng tôi đã nghe và biết rằng / Người thật là Đấng cứu độ trần gian."/
Đó là lời Chúa./ - Lạy Chúa Kitô,/ ngợi khen Chúa./

tnttbs tre ngang
Thân ái trong Chúa Giêsu Thánh Thể,
9-3-2026)

[ Trở về mục lục - Lời Chúa - Giờ Lòng thương xót Chúa - Phụng vụ Lời Chúa CN - Kinh thường đọc - Giờ giấc - Bài hát karafun - Thánh ca Kim Loan - Cha Việt chia sẻ, phần B - liên lạc ].

tnttbs tre ngang

chim bay tnttbs chim bay tnttbs
(Dùng dạng đơn giản 17-4-2017, bỏ khung 2,161023vir)